Những hợp tác xã

Những hợp tác xã "xanh" dẫn dắt nông dân sản xuất "xanh"

15:45 - 03/01/2026

Chuyển đổi sang mô hình sản xuất “xanh” không còn là lựa chọn tự nguyện mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc. Để hiện thực hóa những mục tiêu chiến lược và đáp ứng yêu cầu của thị trường, việc tổ chức lại sản xuất nông nghiệp là yêu cầu tiên quyết.

Vĩnh Long mở rộng thêm 6.000ha vườn dừa hữu cơ
Giá heo hơi hôm nay 9/2/2026: Đà giảm vẫn diễn ra
Mỹ chiếm hơn một nửa kim ngạch xuất khẩu cá rô phi
Giá lúa gạo hôm nay 9/2/2026: Trong nước duy trì ổn định
Trứng gia cầm dịp Tết: Nhu cầu tăng, giá tại trại lại giảm sâu, người chăn nuôi “ngồi trên đống lửa”

Những hợp tác xã tiên phong trong sản xuất "xanh"

Chuyển đổi sang mô hình sản xuất “xanh” không còn là lựa chọn tự nguyện, mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc. Các thị trường xuất khẩu quan trọng như EU, Mỹ, Nhật Bản ngày càng siết chặt tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và giảm phát thải. Ngay cả thị trường nội địa với người tiêu dùng có ý thức cao hơn về sức khỏe và môi trường cũng đòi hỏi nông sản minh bạch, an toàn, thân thiện với hệ sinh thái. Để hiện thực hóa những mục tiêu chiến lược và đáp ứng yêu cầu của thị trường, việc tổ chức lại sản xuất nông nghiệp là yêu cầu tiên quyết.

Kinh tế tập thể mà nòng cốt là các hợp tác xã (HTX) đã và đang chứng tỏ vai trò nền tảng vững chắc trong quá trình này. Báo cáo của Liên minh Hợp tác xã Việt Nam cho thấy, tính đến hết tháng 9 năm 2025, cả nước có khoảng 35.000 HTX với gần 7 triệu thành viên; riêng lĩnh vực nông nghiệp có trên 20.000 HTX đang hoạt động hiệu quả, chiếm 66,8% tổng số HTX trên cả nước.

Đặc biệt, việc Quốc hội ban hành Luật Hợp tác xã năm 2023 (có hiệu lực từ 1/7/2024) đã tạo một hành lang pháp lý mới thông thoáng, thể chế hóa 8 nhóm chính sách hỗ trợ toàn diện cho HTX về đất đai, thuế, tín dụng, khoa học công nghệ, phát triển thị trường,... Sự ra đời gần như đồng thời của Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quyết định số 150/QĐ-TTg ban hành ngày 28/01/2022) và Luật HTX 2023 tạo nên cộng hưởng chính sách mạnh mẽ.

Trên nền tảng đó, khái niệm “HTX xanh” được hình thành như một cấp độ phát triển cao hơn so với HTX truyền thống, hướng tới mục tiêu bền vững toàn diện. HTX xanh không chỉ đơn thuần là làm ra nông sản “sạch” theo các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP hay hữu cơ, mà còn phải đảm bảo cân bằng trên cả ba trụ cột phát triển bền vững: Kinh tế – Môi trường – Xã hội.

Trên cả nước, nhiều mô hình HTX xanh gắn với liên kết ba nhà đã hình thành và gặt hái thành công, minh chứng cho tính ưu việt của mô hình này trong các bối cảnh khác nhau.

Thành viên HTX Rau hữu cơ Thanh Xuân thu hoạch rau. 
 

Thứ nhất, ở lĩnh vực nông nghiệp hữu cơ giá trị cao, HTX Rau hữu cơ Thanh Xuân (huyện Sóc Sơn, Hà Nội) là ví dụ tiêu biểu. HTX này tập trung phục vụ một thị trường ngách rõ ràng: người tiêu dùng đô thị Hà Nội có yêu cầu cao về sản phẩm an toàn, chất lượng. Để đáp ứng phân khúc khó tính, HTX Thanh Xuân xây dựng thương hiệu rau hữu cơ thông qua quy trình sản xuất nghiêm ngặt theo tiêu chuẩn hữu cơ PGS (Participatory Guarantee System – hệ thống đảm bảo cùng tham gia). HTX phối hợp chặt chẽ với các kỹ sư nông nghiệp để lập kế hoạch sản xuất theo đơn đặt hàng, đảm bảo cung ứng rau tươi đúng nhu cầu và tránh dư thừa.

Trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, HTX Dịch vụ nông nghiệp tổng hợp Tân Tiến (Đà Lạt, Lâm Đồng) cho thấy khả năng thích ứng của HTX xanh với kênh phân phối hiện đại. Để đáp ứng yêu cầu khắt khe của các siêu thị và chuỗi cửa hàng bán lẻ, HTX Tân Tiến đã đồng bộ triển khai 5 giải pháp công nghệ cốt lõi: cải tạo đất bằng chế phẩm sinh học, áp dụng hệ thống tưới nhỏ giọt tiết kiệm nước, xây dựng vườn ươm cây giống sạch bệnh, canh tác trên giá thể và đầu tư nhà kính cho các loại rau hoa giá trị cao.

Ở quy mô chuỗi giá trị ngành hàng xuất khẩu chủ lực, mô hình HTX xanh cũng đang được thúc đẩy trong ngành lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long – vựa lúa lớn nhất cả nước.

Theo Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, mặc dù tiềm năng của mô hình HTX xanh là rõ ràng và đã có những điển hình thành công, việc nhân rộng trên phạm vi toàn quốc vẫn đang đối mặt nhiều thách thức mang tính hệ thống. Trước hết, sự bền vững của hợp đồng liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp chưa được đảm bảo. Tình trạng phá vỡ hợp đồng vẫn xảy ra khá phổ biến từ cả hai phía mỗi khi giá cả thị trường biến động mạnh.

Thách thức thứ hai đến từ năng lực nội tại của nhiều HTX còn hạn chế. Phần lớn các HTX nông nghiệp quy mô nhỏ, kỹ năng quản trị và tài chính của đội ngũ cán bộ HTX còn yếu. Tỷ lệ cán bộ quản lý HTX có trình độ cao đẳng, đại học trở lên hiện chỉ vào khoảng 25%. Năng lực đàm phán hợp đồng và quản lý logistics chưa cao cũng khiến vai trò “cầu nối” của một số HTX chưa phát huy tối đa.

Thách thức thứ ba là sự gắn kết giữa nhà khoa học với sản xuất kinh doanh còn lỏng lẻo. Cơ chế để doanh nghiệp và HTX “đặt hàng” các viện trường nghiên cứu giải quyết những bài toán cụ thể của sản xuất còn thiếu hiệu quả. Quá trình chuyển giao công nghệ mới cũng chậm chạp và khó nhân rộng, một phần do thiếu cầu nối trung gian và một phần do hạn chế về kinh phí, năng lực tiếp thu ở cơ sở.

HTX Dịch vụ nông nghiệp tổng hợp Tân Tiến liên kết nông hộ trong và ngoài thành viên sản xuất các loại rau công nghệ cao theo nhu cầu thị trường

Đề xuất giải pháp nhân rộng mô hình HTX "xanh"

 

Từ thực tế trên, Liên minh HTX Việt Nam đề xuất một số định hướng, giải pháp phát triển và nâng cao để vượt qua các thách thức nêu trên và nhân rộng thành công mô hình HTX "xanh".

Một là, cần một hệ thống giải pháp đồng bộ, trong đó Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế và định hướng hỗ trợ dài hạn. Trước hết, việc hoàn thiện hành lang pháp lý phải được đặt lên hàng đầu. Các văn bản hướng dẫn thi hành Luật HTX 2023 cần sớm được ban hành đầy đủ, chi tiết, bảo đảm 8 nhóm chính sách hỗ trợ HTX đi vào cuộc sống thực chất. Đặc biệt, cơ chế pháp lý bảo vệ hợp đồng liên kết trong nông nghiệp cần được xây dựng và thực thi nghiêm minh. Song song, cần có chính sách ưu đãi đặc thù khuyến khích các HTX theo đuổi sản xuất xanh.

Hai là, bên cạnh khung chính sách, việc nâng cao năng lực cho các chủ thể trong chuỗi liên kết là giải pháp mang tính quyết định. Đối với HTX, cần đẩy mạnh các chương trình đào tạo bài bản về quản trị doanh nghiệp hiện đại, kỹ năng đàm phán hợp đồng, marketing và quản lý tài chính cho đội ngũ lãnh đạo HTX.

Ba là, thúc đẩy liên kết thực chất với khoa học – công nghệ cũng là một định hướng quan trọng. Nhà nước cần đổi mới cơ chế đầu tư cho nghiên cứu nông nghiệp, chuyển từ cấp kinh phí theo đề tài khép kín sang các chương trình đồng tài trợ theo nhu cầu của thị trường.

Người dân Phiêng Khoài (Sơn La) thu hoạch mận trái vụ

Bốn là, ở tầm vĩ mô, cách tiếp cận chính sách cần chuyển dịch dần từ hỗ trợ ngắn hạn sang đầu tư dài hạn có điều kiện và tập trung vào việc kiến tạo hệ sinh thái cho HTX phát triển. Quan trọng hơn, các bộ, ban, ngành phối hợp với Hệ thống Liên minh Hợp tác xã Việt Nam cần đóng vai trò “nhạc trưởng” kiến tạo một hệ sinh thái hỗ trợ toàn diện xung quanh HTX: từ đơn vị tư vấn pháp lý, chuyên gia tài chính, tổ chức đào tạo quản trị, cho đến các sàn giao dịch nông sản và hệ thống thông tin thị trường.

Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Thanh Nam, xuất phát từ yêu cầu của thị trường trong tình hình mới cần tăng cường nâng cao năng lực hoạt động của các HTX, cải thiện năng lực cạnh tranh của sản phẩm làng nghề; đẩy mạnh phát triển du lịch nông nghiệp – nông thôn gắn với phát huy tiềm năng lợi thế về nông nghiệp, làng nghề, văn hóa và môi trường sinh thái của các địa phường nhằm nâng cao chất lượng đời sống vật chất, tinh thần của người dân nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tích hợp đa giá trị, bao trùm và phát triển bền vững; Quan tâm triển khai các chương trình tiến quảng bá, hỗ trợ phát triển sản phẩm du lịch nông nghiệp – nông thôn dựa trên lợi thế của hoạt động sản xuất nông nghiệp, đặc trưng văn hóa, sinh thái của các địa phương; xây dựng, phát triển và định vị thương hiệu điểm đến du lịch nông thôn…